Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

31 CHUYỆN TỔ CHIM CON Tiền thân Kulàvaka -Truyện Tiền Thân Đức Phật Tập 1

PHẨM KULAVAKA

31. CHUYỆN TỔ CHIM CON
(Tiền thân Kulàvaka)

Hãy để tổ chim con ...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo
Sư đã kể về một Tỷ-kheo uống nước không lọc. Theo truyền thuyết, hai bạn trẻ
Tỷ-kheo từ Xá-vệ đi về tỉnh, trú tại một địa điểm thoải mái cho đến thỏa thích,
rồi từ đó ra đi, hướng về Kỳ Viên để yết kiến bậc Chánh Ðẳng Giác.
Một Tỷ-kheo có trong tay một lọc nước
và người kia không có. Hai người thường lọc nước chung để uống. Một hôm, họ cãi
lộn nhau. Người chủ cái lọc nước không cho người kia dùng lọc nước, tự mình lọc
riêng rồi uống nước. Người kia không có đồ lọc nước, và không thể nhịn khát,
nên uống nước không lọc. Hai người ấy tuần tự đi đến Kỳ Viên, đảnh lễ bậc Ðạo
Sư, và ngồi xuống.
Sau khi chào đón thân tình, bậc Ðạo Sư
liền hỏi:
- Các ông từ đâu đến?
- Bạch Thế Tôn, chúng con ở quốc độ
Kossala, sống trong một làng, từ đấy ra đi để yết kiến Ngài.
- Nhưng các ông đi đường có hoà thuận
không?
Người không có lọc nước nói:
- Bạch Thế Tôn, người này giữa đường
cãi lộn với con, không cho con lọc nước.
Người kia nói:
- Bạch Thế Tôn, người này không lọc
nước, tuy biết, vẫn uống nước có loài hữu tình.
- Này Tỷ-kheo có thật chăng, ông tuy
biết, vẫn uống nước loài hữu tình?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn, con uống
nước không lọc.
Bậc Ðạo Sư:
- Này Tỷ-kheo, trong thời quá khứ, các
bậc Hiền trí trị vì thành phố chư Thiên, trong khi thua trận, chạy trốn trên
mặt biển, quyết không vì vương quyền giết hại các hữu tình, nên đã từ bỏ danh
vọng lớn để cứu mạng sống cho các loài chim con loài Kim-sí-điểu, và họ đã cho
xe quay lui.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, trong nước Ma-kiệt-đà, tại
thành Vương Xá, có một vị vua Ma-kiệt-đà trị vì. Cũng như nay, Ðế Thích (Thiên
chủ Sakka) trong một đời sống trước đã sanh ra trong làng Macala ở nước
Ma-kiệt-đà. Thời đó, Bồ-tát được sanh làm con trai một đại gia đình quý tộc
cùng ở trong làng Macala ấy. Vào ngày đặt tên, Bồ-tát được đặt tên là hoàng tử
Magha; khi lớn lên có tên là Maghamanava (thanh niên Magha).
Cha mẹ, cưới cho Bồ-tát một người vợ từ
một gia đình có môn đăng hộ đối. Bồ-tát cùng với con trai, con gái lớn lên,
thường hay bố thí, và giữ gìn Năm giới, trong làng ấy có ba mươi gia đình. Và
những người trong ba mươi gia đình ấy, một hôm, đứng ở giữa làng bạn bạc giải
quyết những vấn đề ở trong làng.
Bồ-tát, tại chỗ mình đứng, dùng chân
quét sạch bụi làm chỗ ấy trở thành tốt đẹp và đứng đó. Rồi một người khác đến,
đứng thế chỗ ấy. Bồ-tát lại làm một chỗ khác, một chỗ khác, cho đến khi chỗ
đứng cho tất cả mọi người trở thành tốt đẹp.
Trong một thời khác, Bồ-tát dựng một
cái lều, sau đó dẹp lều, rồi dựng một phòng lớn, trong ấy có đặt ghế giường và
ghè nước.
Trong một thời khác, ba mươi người ấy
do Bồ-tát hướng dẫn trở thành dân tốt như mình. Bồ-tát thường cùng đi với họ
làm các công đức như: sáng sớm thức dậy, với rìu nhỏ, búa, chùy cầm tay, đến
ngã tư đường, họ đập với cái chùy, làm bật lên những hòn đá, đẩy đá qua một
bên, dọn dẹp những cây va chạm vào trục xe, san bằng con đường gồ ghề, xây cầu,
đào ao hồ, dựng phòng ốc, bố thí và giữ giới. Như vậy, phần lớn toàn dân trú
trong làng vâng theo lời khuyên dạy của Bồ-tát, giữ gìn các giới.
Nguời thôn trưởng suy nghĩ về họ:
"Trước đây, khi những người này uống rượu, sát sanh v.v..., ta lấy được
nhiều tiền, nào tiền rượu, tiền phạt, tiền cúng. Nay thanh niên Magha khiến họ
giữ giới, nên họ không còn sát sanh nữa, v.v... Nay ta sẽ làm cho họ từ bỏ Năm
giới".
Kẻ ấy phẫn nộ đi đến hầu vua và thưa:
- Tâu Thiên tử, có một đoàn ăn cướp,
đang phá xóm làng và làm nhiều tội ác!
Vua nghe kẻ ấy nói như vậy, liền bảo:
- Hãy đi và dẫn chúng đến!
Người thôn trưởng bắt họ trói lại, dẫn
họ đến và báo với vua:
- Thưa Thiên tử, những người ăn cướp đã
được dẫn đến.
Không điều tra việc làm của họ, vua
nói:
- Hãy đem chúng cho voi chà!
Vua bắt tất cả những người ấy nằm xuống
trên sân vua và đem voi lại.
Bồ-tát khuyên bảo họ:
- Các bạn hãy hành trì giới. Hãy khởi
lòng từ đối với kẻ vu cáo, đối với vua, đối với con voi, đối với tự thân đều
giống nhau.
Họ làm như lời khuyên ấy.
Các người của vua đem voi đến để chà họ
chết. Con voi được dắt đến nhưng không lại gần, chỉ rống to rồi bỏ chạy. Họ lại
đem con voi khác nữa. Tất cả đều bỏ chạy như vậy. Vua nghĩ: "Chắc trong
tay họ có thuốc trường sanh!" và vua ra lệnh soát. Sau khi soát không thấy
gì, họ thưa lên với vua:
- Vậy chắc họ có đọc bùa chú.
- Hãy hỏi họ.
Những người của vua hỏi, Bồ-tát trả
lời:
- Có.
Họ thưa lại với vua.. Vua cho gọi tất
cả bọn họ đến và bảo:
- Hãy đọc bài chú của các người.
Bồ-tát trả lời:
- Thưa Thiên tử, chúng tôi không biết
bùa chú gì khác. Nhưng ba mươi người chúng tôi không sát sanh, không lấy của
không cho, không tà hạnh, không nói láo, không uống rượu. Chúng tôi khởi lòng
từ, chúng tôi bố thí, chúng tôi san bằng đường sá, chúng tôi đào ao hồ, chúng
tôi xây phòng ốc. Ðấy là bùa chú của chúng tôi, là sức mạnh của chúng tôi.
Vua rất bằng lòng với họ, liền cho họ
tất cả gia sản của người vu cáo, bắt người vu cáo làm nô lệ cho họ, rồi cho họ
cả đàn voi và ngôi làng. Từ đấy trở đi, họ làm các công đức theo sở thích của
họ, họ gọi thợ mộc để xây dựng một phòng họp lớn tại ngã tư đường. Vì không còn
ham muốn đối với nữ nhân, họ không cho nữ nhân tham gia vào công đức làm phòng
họp ấy.
Lúc bấy giờ, tại nhà Bồ-tát có bốn nữ
nhân tên là Thiện Pháp, Tư Duy, Hoan Hỷ, Thiện Sanh. Một trong bốn nữ nhân là
Thiện Pháp tự mình đi tìm người thợ mộc, hối lộ cho người ấy và nói:
- Này anh, hãy cho tôi đóng góp phần
chính trong việc làm phòng họp này.
Người thợ mộc chấp nhận lời yêu cầu,
trước tiên cho phơi khô gỗ làm tháp nhọn, chặt đẽo, đục lỗ, làm xong cái tháp
nhọn, rồi lấy vải cuốn lại và cất đi. Khi người thợ mộc làm xong phòng họp, đến
thời đặt tháp nhọn, anh ta lại kêu than:
- Ôi, thưa các Tôn giả, có một vật
chúng ta chưa làm.
- Cái gì vậy?
- Cần phải có một cái tháp nhọn.
- Ðược, chúng tôi sẽ đem đến.
- Nay không thể làm với cây mới chặt
được. Chúng ta cần phải có một cái tháp nhọn với cây đã chặt trước phơi khô một
thời gian, rồi cắt đẽo, và đục lỗ để dành.
- Vậy nay phải làm gì?
- Hãy tìm xem trong nhà của ai có cất
một cái tháp nhọn đã làm xong và để bán.
Họ tìm kiếm, và thấy trong nhà của
Thiện Pháp có cái tháp ấy, nhưng không mua được.
- Nếu các ông cho tôi dự phần công đức
làm phòng họp, thì tôi sẽ biếu cái tháp nhọn.
- Không được, chúng tôi không cho nữ
nhân dự phần công đức.
Người thợ mộc nói với họ:
- Sao các Tôn giả lại nói vậy? Chỉ trừ
Phạm thiên giới, không một chỗ nào khác loại trừ nữ nhân! Hãy lấy tháp nhọn. Có
như vậy công việc của chúng ta mới hoàn thành.
Họ bằng lòng lấy tháp nhọn, và làm xong
phòng họp. Sau đó, họ cho sắp những ghế dài bằng gỗ, đặt những ghè đựng nước,
cung cấp cháo và cơm. Họ xây một bức tường xung quanh phòng họp, gắn cửa ra
vào, rải cát giữa những bức thành và ngoài bức thành trồng một dãy cây cọ dừa.
Còn nàng Tư Duy xây dựng một công viên
tại chỗ ấy. Tại đó, không có một cây hoa nào, cây trái nào mà không có tên
nàng. Nàng Hoan Hỷ đào một hồ nước đẹp đẽ, tràn đầy hoa sen năm sắc. Còn nàng
Thiện Sanh không làm gì cả.
Bồ-tát làm đầy đủ bảy điều thệ nguyện:
Hầu mẹ, hầu hạ cha, kính trọng anh cả, nói lời chân thật, không noí lời ác,
không nói lời vu váo, nhiếp phục xan tham và tóm tắt trong bài kệ:
Người nuôi dưỡng mẹ cha,

Kính bậc trưởng gia đình,

Nói từ hòa, ái ngữ,

Từ bỏ lời vu cáo,

Nhiếp xan tham nói thật,

Phẫn nộ được chế ngự,

Chư Thiên Ba mươi ba

Gọi là bậc Chân nhân.
Bồ-tát đạt trạng thái đáng được tán
thán nhu vậy, và khi mạng chung, được sanh làm Ðế Thích Thiên Chủ ở cõi Trời ba
mươi ba. Những người bạn của Bồ tát cũng sanh lên đó. Trong thời ấy, tại cõi
trở Ba mươi ba, các Thần Asura (A-tu-la) cũng sống chung. Thiên Chủ Ðế Thích
nói:
- Tốt gì cho chúng ta khi một vương
quốc phải ở chung với kẻ khác?
Rồi ngài cho các A-tu-la uống nước chư
Thiên, khi chúng say, Thiên Chủ Ðế Thích cầm chân chúng ném xuống vực núi
Sineru (Tu-di). Chúng rơi vào lâu đài ở cảnh giới A-tu-la. Lâu đài của A-tu-la
nằm ở tầng thấp nhất của núi Tu-di, rộng bằng cõi Trời ba mươi ba.
Tại đấy có mọc một cây giống như cây
San hô của chư Thiên sống suốt một kiếp và được gọi là Cây bông kèn. Cây bông
kèn nở hoa, cho chúng biết đây không phải là cõi trời của chúng vì cõi trời có
nở hoa San hô. Chúng nói:
- Ông già Ðế thích cho chúng ta uống
say, rồi quăng chúng ta trên mặt biển lớn và chiếm thành chư Thiên của chúng
ta. Chúng ta hãy tiến đánh lão ấy và lấy lại thành chư Thiên của chúng ta!
Rồi chúng leo lên sườn núi Tu-di như
những con kiến leo lên cột. Ðế Thích nghe các Thần A-tu-la đã leo lên, liền
xông ra mặt biển giao tranh, bị chúng đánh bại, liền chạy trốn trên chiếc xe
Vejeyanta dài một trăm năm mươi dặm, chạy trên những đầu ngọn sóng biển phía
nam. Chiếc xe của Ðế Thích chạy lướt trên mặt biển, đi đến ngôi rừng cây bông
lụa. Trên đường đi của chiếc xe, rừng cây bông lụa bị chặt đứt như những cây cọ
dừa và rơi trên mặt biển. Các con chim Kim-sí-điểu (Garula, thim thần cánh
vàng) bay quanh trên mặt biển, kêu gào lớn tiếng. Ðế Thích hỏi thần lái xe
Màtali:
- Này bạn Màtali, tiếng kêu gì vậy? Nó
kêu thật bi thương?
- Thưa Thiên đế, vì rừng cây bông lụa
rơi xuống, do tốc độ cỗ xe ngài nghiền nát, các con chim Kim-sí-điểu sợ chết
đồng thanh kêu gào như vậy.
Bậc Ðạo Sĩ nói:
- Này bạn Màtali, chớ làm chúng mệt
mỏi, vì chúng ta. Chúng ta không vì chủ quyền thiên giới mà sát sanh. Vì lợi
ích của chúng, ta sẽ từ bỏ mạng sống và nộp mình cho loài A-tu-la! Hãy quay xe
lại đi!
Nói vậy xong, Ðế Thích đọc bài kệ:
Hãy để tổ chim con,

Hỡi này Mà-ta-li!

Trong rừng Sim-ba-li

Tránh miệng ác chủ tể,

Ta sẵn sàng nộp mạng

Cho các A-tu-la,

Chớ để các chim này

Bị xé nát khỏi tổ.
Thần đánh xe Màtali nghe lời Ðế Thích,
quay xe lại, đi về hướng thiên giới bằng con đường khác. Các thần A-tu-la thấy
Ðế Thích quay xe lại, tự nghĩ: "Chắc chắn các Ðế Thích từ những thế giới
khác đến, được sức mạnh tiếp viện, nên mới quay xe lại". Bị dao động vì sợ
chết, chúng liền chạy trốn vào lâu đài A-tu-la.
Còn Ðế Thích đi vào thành chư Thiên,
đứng ở giữa thành, với Thiên chúng của hai thiên giới vây quanh. Trong thời
khắc ấy, đất nứt ra, và lâu đài Vejayanta (Tối thắng) trồi lên cao một ngàn
dặm. Vì nó trồi lên khi thắng trận, nên được gọi là lâu đài Vejayanta. Ðể ngăn
chận các A-tu-la trở lại, Ðế Thích ra lệnh cho bảo vệ năm chỗ, liên hệ vấn đề
này, Ðế Thích nói lên bài kệ:
Giữa hai thành bất thắng,

Ðặt năm chỗ bảo vệ,

Bảo vệ bởi Rắn thần,

Bởi chim Kim-sí-điểu,

Kum-bhan-da, Dạ-xoa,

Và bởi bốn thiên vương.
Ðược năm chỗ bảo vệ này, Thiên chủ Ðế
Thích thọ hưởng những vinh quang thiên giới. Nàng Thiện Pháp, sau khi mạng
chung, được sanh làm vương hậu một lần nữa. Do kết quả cúng dường cái tháp
nhọn, đã khởi lên cho nàng một lâu đài tên là Thiện Pháp đình với thiên báu,
cao đến năm trăm dặm. Tại đấy, dưới một chiếc lọng trắng của chư Thiên, Thiên
chủ Ðế Thích ngồi trên một tấm nệm bằng vàng rộng một dặm và làm những công
việc cần phải làm cho chư Thiên và loài người. còn Tư Duy, sau khi mạng chung,
cũng sanh làm vương hậu của Ðế Thích; do kết quả xây dựng một công viên, đã
khởi lên cho nàng một công viên tên là Cittalatavana (Tư Duy Viên). Hoan Hỷ,
khi mạng chung, cũng sanh làm vương hậu của Ðế Thích, do kết quả cúng dường cái
hồ, đã khởi lên cho nàng một cái hồ tên là Nanda (Hoan hỷ). Còn Thiện Sanh, do
không làm thiện nghiệp gì, được sanh làm con chim hạc ở một hang động trong rừng.
Không thấy bóng dáng Thiện Sanh ở đâu,
muốn biết nàng tái sanh chỗ nào, Ðế Thích hướng tâm xem xét và thấy nàng, liền
đi đến chỗ ấy thăm nàng rồi đưa nàng lên thiên giới, chỉ cho thấy thành phố chư
Thiên đẹp đẽ, lâu đài chư Thiên của Thiện Pháp, rừng cây leo của Tư Duy, cái hồ
của Hoan Hỷ, Ðế Thích nói:
- Những nàng này, vì có làm việc thiện
nên được sanh làm vương hậu của ta. Còn nàng, không làm việc lành, phải sanh
làm chim hạc. Bắt đầu từ nay, hãy giữ giới!
Sau khi khuyến giáo nàng và trao cho
nàng Năm giới, Ðế Thích đưa nàng về lại chỗ cũ và thả nàng ra. Từ đấy trở đi,
nàng giữ giới. Sau một thời gian, muốn tìm hiểu nàng có giữ giới nữa không, Ðế
Thích đi đến hiện hình làm con cá nằm trước mặt nàng. Nghĩ rằng cá đã chết, hạc
ngậm lấy đầu cá. Cá vẫy đuôi, hạc liền thả cá ra, và nói:
- Ôi nó còn sống!
Ðế Thích nói:
- Lành thay, nàng có thể giữ giới được!
Rồi ngài ra đi. Con hạc, sau khi mạng
chung, được sanh vào một gia đình làm đồ gốm ở Ba-la-nại. Ðế Thích không biết
nàng tái sanh ở đâu. Khi biết chỗ tái sanh của nàng, Ðế Thích liền chở đầy một
xe dưa chuột bằng vàng, giả dạng một ông già, ngồi giữa làng và la lớn:
- Hãy đến lấy dưa chuột! Hãy đến lấy
dưa chuột!
Nhiều người tự lại nói:
- Này ông bạn thân, hãy cho chúng tôi!
- Ta chỉ cho những người nào giữ giới!
Các chú có giữ giới không?
- Chúng tôi không biết giới. Chúng tôi
sẽ trả tiền.
- Ta không cần tiền! Ta sẽ cho những ai
giữ giới!
Các người ấy nói:
- Cụ già này thật lẩn thẩn.
Rồi họ bỏ đi.
Thiện Sanh nghe thấy, nghĩ rằng những
trái dưa chuột này được mang đến cho nàng, liền đi đến và nói:
- Này ông bạn thân, hãy cho tôi!
- Nàng có giữ giới không?
- Thưa, tôi có giữ giới!
- Những trái dưa chuột này chính ta
mang đến cho nàng!
Rồi Ðế Thích để xe dưa chuột trước của
nhà nàng và ra đi. Còn nàng giữ giới cho đến trọn đời. Từ đấy mạng chung, nàng
sanh làm con gái của chúa thần A-tu-la là Vepacittiva, nhờ giữ giới nên nàng
rất đẹp.
Ðến tuổi trưởng thành, cha nàng cho họp
các thần A-tu-la lại để cô con gái tự do chọn lựa chồng theo sở thích của nàng.
Lúc ấy, Ðế Thích đang tìm xem Thiện
sanh ở đâu, và biết được chỗ nàng tái sanh, tự nghĩ: "Nàng đang tìm chồng
theo sở thích, chắc chắn nàng sẽ lấy ta!". Ðế Thích liền hóa hiện ra một
thần A-tu-la, và đi đến chỗ ấy. Nàng được trang sức và được đưa đến chỗ tụ họp
để lựa chọn chồng theo ý muốn. Nàng nhìn Ðế Thích, với tình yêu thưở trước,
liền chọn ngay Ðế Thích:
- Ðây là chồng của tôi!
Ðế Thích đưa nàng về thành chư Thiên,
đặt nàng lên địa vị nữ vương cầm đầu hai mươi triệu vũ nữ. Nàng sống như vậy
cho đến mạng chung rồi đi theo nghiệp mình.
*
Sau khi kể câu chuuyện, bậc Ðạo Sư đã
khiển trách vị Tỷ-kheo ấy và nói:
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, thuở trước
trong khi các bậc Hiền trí trị vì thiên quốc, dầu từ bỏ thân mạng của mình,
cũng không sát sanh. Còn ông xuất gia trong Giáo pháp giải thoát như vậy, lại
uống nước không lọc, có các loại hữu tình.
Sau khi khiển trách Tỷ-kheo ấy và kết
hợp hai câu chuyện, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy, thần đánh xe Matali là
Ànanda, còn Ðế Thích là Ta vậy.
Link xem video:


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét